Ở một thời chinh biến  [ h à n h N g u y ễ n L ô ]

  • Hoàng Xuân Sơn

“hạt bụi nào đo hết
cả chiều dài quê hương”

( Trong chiến cuộc Việt Nam, có những anh hùng sớm bị quên lãng. Mấy đoạn khiêm tốn này xin được vinh danh người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Riêng tặng bạn Nguyễn Lô, một chiến sĩ Dù với chiến công và thương tích lừng lẫy )

 
Gặp nhau giờ này trăng đã muộn
trời đã về tây bóng núi dàn
muốn hỏi dăm ba điều uất nghẹn
bạn cười : tâm sự, lớp bèo tan !

 Ngày xưa đó nhỉ ? ừ, xa lắm !
chẳng nhớ gì đâu những địa hình
cây lớn phũ phàng cơn gió bắc
cốt nhục hoang đàng dấu lửa binh

 Mấy ai sinh trưởng thời tao loạn
ngoảnh mặt làm ngơ với xóm phường
sống chết đâu nề cân chí lớn
vọng tiếng quân hành lúc nhiễu nhương

 Áo trận hoa dù rưng phượng đỏ
một quyết lòng đi giã học đường
nẻo cuối trời chiều mây đẹp quá
mai về hương mộng ủ người thương

 Vinh nhục đời người không luận chiến
“núi sông chường mặt đứa phong trần”
ra đi mới biết đường sơn thủy
chảy đậm quê nhà trong máu gân

 Khi tung cánh gió hoa trời nở
lấp lánh không trung cánh điểu dài
trăm đóa thiên thần như lôi vũ
bạt vía quân thù ánh hỏa khai

 Đấy thuở làm người đi canh mộng
thôn nghèo me được ngủ yên không ?
và bầy em nhỏ chân thơ dại
có bước rong chơi giữa cánh đồng ?

 Trăm nẻo di hành sao kể hết
sáng đổ An Lộc chiều Khe Sanh
đường tên mũi đạn như là gió
thổi vút đêm hoang những ngọn ngành

 Bóng hời đổ xuống ta hay địch ?
âu cũng về ngang một kiếp người
đóm lửa hư huyền cơn binh biến
đồng đội thân thương vẫn nói cười

 Mỗi chiều ra khe vốc ngụm nước
soi thấy mày râu mãnh hổ gầy
này muôn kẻ địch trùng vi khép
lòng có bơ phờ lúc giải vây ?

 Ôi những vầng trăng thương nhớ thương
trăng nở ra tai biến dị thường
hang dài vực thẳm ai mà biết
điềm chỉ sao mây có lạc đường ?

 Đầm Dơi, Cái Nước rồi đâu nhỉ ?
trải mấy thu sương mấy hạ vàng
máu trổ bên đồi bông hoa lạ
giây phút xuất thần địa pháo ran

 Chiến công lừng lẫy lúc trăng tròn
trăm vết thương mờ bụi nước non
hùng ca bản ấy không người hát
đêm ngỡ ngàng treo một nụ hôn

 Vết cắt mở miệng đòi di tản
Chu Thái đời xưa há thế này !
đau đớn rạch ròi không sá kể
bóng mẹ dài khắp cả rừng cây

 Sinh tử xóa đi lằn biên giới
như khói chiều tà lẩn dưới mây
một thuở nghe hồn lên cao tới
rụng xuống yên ba vực thẳm này

 Trăng rừng đất mẹ mớm vào nhau
nghiệm thấy lòng trai giữa chiến hào
khi về binh dưỡng thân yên ấm
vẫn nhớ lưng trần mõm núi cao

 Nạng chống lần đi thăm bạn hữu
máu truyền chưa kịp vết thương tươi
ngõ rượu thênh thang hào khí rót
nữa mai xung trận thét vang trời

 Đời chẳng muốn làm trang dũng khách
yêu thay đời lính dọc sông hồ
quán nhỏ bên đường quân, ghé lại
em gái cười miệng-ngọc-hồn-thơ

 Phép hạn đôi ngày, thương cũng ngắn
áo bụi về thành mắt dửng dưng
chiến sự đâu mà lan tới phố
kẻ nhắm người trông hóa lạ lùng !

 Khi mở đồng sâu lối miệt mài
đi từ quang tạnh lúc sao khơi
sinh mệnh gối về nơi lũng thấp
mải miết trò chơi của thế thời

 Thấm tháp gì mươi niên tù trận
chuyện nhà khơi đậm nỗi buồn suy
dấu đạn lâu năm còn thổn thức
tình kẻ tha phương có nguội vì ?

 Đất nào nuôi nấng một mình ai
khinh trọng hèn sang cũng một đài
không cả oán hờn không nghe giận
sen đồng thanh tịnh đóa cười tươi

 Gặp nhau giờ này đâu đã muộn
đánh nữa hay thôi trận chiến dài
ôi dẫu thân hèn tâm chưa phế
còn mơ ngày sẻ gánh kề vai !

 
HOÀNG XUÂN SƠN
06-10-1990

 

Hoàng Xuân Sơn và Quỳnh Hương – nhạc Trịnh Công Sơn.

ngồi nhậu trên đường Trịnh Công Sơn Huế

NGUYỄN ĐÌNH LIÊN(Bút Ký)

Đi giữa Huế sao vẫn còn nhớ Huế
Nhớ cây cầu im lặng thuở còn thơ
Nhớ buổi sáng mù sương như hơi thở
Con đường xưa mơ gặp lại chính mình

NĐL

hue
(hình: tác giả)

Khoảng 6 giờ chiều trời Huế vẫn còn nóng như đổ lửa . Người bạn đề nghị: Trời nóng kiểu ni chỉ có nước đến đường Trịnh Công Sơn ngoài bờ sông mà nhậu mới đã . Lần đầu tiên tôi nghe tên con đường này. Vốn xa xứ gần 1 phần 4 thế kỷ, nên chuyện vật đổi sao dời ở đây đối với tôi cũng chẳng có chi là lạ. Tôi mới hỏi:
– Nó nằm ở đâu vậy ?
– Dọc theo bờ sông Hương phía cầu Gia Hội . Con đường này đẹp lắm.
– Ủa sao phải đến đó mà nhậu?
– Thì ở đó toàn quán nhậu chớ sao…

Con đường chỉ dài khoảng hơn 500 mét, từ cầu Gia Hội đổ xuống quẹo phải thì đụng nó. Trước năm 1975, ở đây tôi nhớ có một trạm xá y tế còn phía trước có bãi đất trống dùng để gửi xe cho rạp chiếu bóng Châu Tinh. Nhưng đó là chuyện gần nửa thế kỷ trước, nay người ta phá hết và cho mở một con đường mới, từ đó chạy dọc theo bờ sông Hương kéo xuống tận chợ Cồn. Con đường này được đặt tên Trịnh Công Sơn, một nhạc sĩ nổi tiếng của xứ Huế cả nước ai cũng biết. Đọc trên mạng mới hiểu thêm, 8 năm về trước, năm 2011, Hội Đồng Nhân Dân Tỉnh Thừa Thiên Huế “..đã chính thức thông qua việc đặt tên của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho con đường mới mở ven sông Hương thuộc phường Phú Cát, TP Huế”.. Bài viết trên mạng nhấn mạnh: “ ..Trong kho tàng âm nhạc của Trịnh Công Sơn – cũng là một người con tài hoa của Huế, có nhiều tuyệt tác mang đậm chất Huế, ẩn chứa cốt cách, con người và phong cảnh của chốn thần kinh. Một con đường mang tên Trịnh Công Sơn ở Huế là lẽ xứng đáng đương nhiên”. (Trích VN -Express)

Con đường thật đặc biệt, đặc biệt vì chỉ dài chưa đến 600 mét mà có trên 3 chục quán nhậu nằm san sát nhau cạnh bờ sông. Người bạn tôi nói đúng, trời nóng như ri ra bờ sông vừa ngồi nhậu vừa hưởng gió sông mát rượi thổi vào thì ai mà không thích. Chính vì thế khi chiều xuống quán nào cũng đông nghịt người, đông đến mức làm tôi phải ngạc nhiên, dân Huế miền té ra bữa ni nhậu cũng dữ ? Hàng quán đông đúc càng về chiều khách khứa càng ra vào nườm nượp, tiếng khui nắp bia kêu lách tách lẫn tiếng cười nói ồn ào ..Tất cả hòa lẫn trong một bầu không khí đậm đà mùi xào nướng xông lên nức mũi. Đâu đâu cũng nghe tiếng hò hét vui vẻ : một .. hai .. ba ..dzô không khác gì cảnh nhậu tới bến của dân chơi Sài Gòn. Vì đông quá nên phải mất gần nửa tiếng tôi và người bạn mới chọn được một cái bàn gần bờ sông. Trời vừa sẩm tối, ở đây nhìn về phía tả ngạn sông hương, chúng tôi có cơ hội nhìn ngắm những vạt nắng cuối cùng còn sót lại trên dãy bờ thành . Vạt nắng đó đối với tôi có vẻ là những gì còn sót trong ký ức của một thành phố nay đã hoàn toàn thay da đổi thịt.
Nhấm nháp chai bia và dĩa đọt bí xào tỏi bên dĩa bê thui chấm mắm nêm cùng ngắm nghía mấy con ruồi bay vo ve chung quanh, cả hai chúng tôi đều đắm chìm trong giây phút lãng quên đời hiếm hoi trong một buổi chiều sặc sụa mùi rượu bia như thế này quả là tuyệt vời. Mãi cho đến một lúc chúng tôi mới sực nhớ ra chúng tôi đang ngồi nhậu trên con đường vốn được vinh dự đặt tên của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Người dân Huế nào cũng biết và mê nhạc của ông khởi đầu từ những bài hát lãng mạng với những ngôn ngữ những tiết tấu đầy mới lạ như Diểm Xưa, Như Cánh Vạc Bay, Mưa Hồng Hay sau này trong tập Ca khúc da vàng nổi đình nổi đám gây tranh cải như bài Ngụ ngôn mùa đông, Hát trên những xác người.. Nhưng việc tên ông, 10 năm sau khi ông mất, đã được chính quyền thành phố Huế đặt tên cho một con đường, mà không hiểu nguyên do vì ở nơi ông “..có nhiều tuyệt tác mang đậm chất Huế, ẩn chứa cốt cách, con người và phong cảnh của chốn thần kinh.”. Hay chính vì giờ phút cuối cùng của miền Nam Việt Nam, ngày 30 tháng tư ông có công cầm đàn xông vào Đài Phát Thanh Sài gòn hát bài nối vòng tay lớn ? Nhưng có vẻ đây câu hỏi dư thừa ít ra đối với phía chính quyên sở tại. Riêng về phía dân nhậu thì rõ ràng thực tế hơn. Chỗ nào mồi ngon bia bọt giá phải chăng, phong cảnh hữu tình thì dân nhậu tấp nập đến, không ai mất công thắc mắc tại sao phải đặt tên đường ông này hay ông kia, và tại sao phải đặt, dù đó là tên: Trịnh Công Sơn , Hay Lê Duẩn hay Phạm Văn Đồng Hay cả Hồ Chí Minh cũng vậy .

Chúng tôi lên xe về khi trăng đã lên cao, gió sông thổi vào mát rượi . Mùi xào nấu và tiếng ồn ào dzô ..dzô vẫn còn quấn quýt đuổi theo chúng tôi qua đến cầu Gia Hội . Trên đường tôi hỏi người bạn:
– Nè ..trước kia ông Trịnh Công Sơn nhậu dữ lắm hay răng mà chừ tên ông được đặt cho con đường toàn quán nhậu vậy ?
Người bạn không trả lời, hoặc nó không nghe, hoặc nó không biết làm răng mà trả lời ..

Nguyễn Đình Liên
Salt Lake City, Utah July 1, 2019

nguồn: FB Lien Nguyen

Hộp quẹt zippo – Kỷ vật của chiến tranh

  • Nguyễn Ngọc Chinh

 

Ở miền Nam trong thời chiến tranh xuất hiện một loại hộp quẹt mang tên Zippo. Thoạt đầu người ta không chú ý đến nó vì Zippo chỉ dùng trong quân đội Mỹ. Zippo có thể được mua trong PX (Post Exchange), một loại cửa hàng dành riêng cho các chú GIs (Government Issues – vì lính Mỹ do chính phủ trang bị từ đầu đến chân), tương tự như “quân tiếp vụ” của quân lực VNCH.

Dần dà hộp quẹt Zippo đi vào cuộc sống hàng ngày của người dân miền Nam, kể cả những người không hút thuốc và các bà nội trợ. Đơn giản chỉ vì Zippo còn được dùng để nhóm bếp củi, bếp than hay lò dầu hôi. Mỗi lần bật nắp Zippo nghe tiếng “cắc” thật lạ tai, nhưng riết thành quen. Chỉ nghe tiếng “cắc” là biết ngay có sự hiện diện của Zippo!

Ngoài đặc điểm “windproof” (chống gió), Zippo còn có thể giữ được ngọn lửa trong mọi thời tiết nhờ thiết kế “chắn gió”. Khó có thể dập tắt một chiếc Zippo đang cháy bằng cách thổi vào ngọn lửa, tuy nhiên ngọn lửa sẽ dễ dàng tắt nếu bị thổi từ trên xuống.

Bộ phận đánh lửa và bấc của Zippo.

Cách tốt nhất để dập tắt ngọn lửa Zippo là đóng nắp hộp quẹt, ngọn lửa sẽ tắt vì thiếu oxy. Tuy nhiên, không giống các loại bật lửa khác, việc đóng nắp không làm cắt nguồn nhiên liệu cung cấp cho hộp quẹt.

Zippo cháy bằng sợi bấc, được tẩm xăng và chứa trong phần thân của hộp quẹt. Ngoài bấc, bên trong hộp quẹt còn có loại bông gòn đặc biệt thấm xăng, phần chứa đá lửa chạy dài theo thân có lò so và có một con ốc khóa trục phần đựng đá lửa.

Lớp trong thân của Zippo

“Nghề chơi” Zippo cũng lắm công phu vì ngoài chiếc hộp quẹt nhà sản xuất còn có những “phụ tùng” đi kèm với sản phẩm chính. Xăng dùng cho Zippo là loại xăng đặc biệt, tương tự như xăng máy bay, nên có ngọn lửa màu hơi xanh xanh. Nếu dùng xăng thường sẽ có ngọn lửa màu vàng, đôi khi lại còn có khói.

Zippo cháy với ngọn lửa pha chút màu xanh

Đá lửa của Zippo được chế tạo với độ đánh lửa rất nhạy, chỉ cần một động tác xoay bánh xe đánh lửa là bấc Zippo bắt tia lửa và hộp quẹt cháy ngay, không đợi đến lần đánh lửa thứ hai.

Ngay từ đầu thập niên 50 hãng Zippi đã đăng quảng cáo “Zip-A-Flint” là một dụng cụ nạp đá lửa trong đó có 6 viên đá để người sử dụng Zippo nạp vào hộp quẹt, mỗi lần một viên. Giá vào thời đó, 6 viên đá lửa chỉ có 15 xu!

Quảng cáo đá lửa Zippo

Sài Gòn xưa xuất hiện một nghề lạ lẫm: khắc trên hộp quyẹt Zippo, khách hàng là những người lính Mỹ muốn lưu giữ kỷ niệm trong thời gian phục vụ tại Việt Nam. Họ viết những lời muốn khắc lên giấy và chỉ ít phút sau, tác phẩm trên hộp quẹt đã hoàn thành.

Thợ khắc có hai loại, hoặc khắc thủ công bằng tay hoặc bằng máy. Máy khắc được chế tạo rất đơn giản chứ không phải khắc bằng tia laser như ngày nay. Máy khắc hồi đó chỉ gồm những thanh sắt nối với nhau thành một hình chữ nhật với 2 đầu: một đầu có gắn mũi khoan để khắc trên hộp quẹt một đầu di chuyển trên các con chữ đã xếp từ trước.

Trên lề đường Lê Lợi có rất nhiều thợ khắc chữ không những trên hộp quẹt mà còn trên thẻ bài, bút máy và các vật dụng khác. Một khúc của đường Lê Lai hồi xưa cũng có nhiều kiosk nhận khắc chữ, khắc hình. Xem ra nghề khắc làm ăn cũng khấm khá vì người ta phỏng đoán có khoảng 200.000 bật lửa Zippo đã được lính Mỹ sử dụng tại Việt Nam.

 

Đối với nhiều người, sưu tầm hộp quẹt Zippo là một “hobby”, một cái thú vừa tốn tiền nhưng cũng không kém phần thú vị như sưu tầm tem bưu chính. Trong cái thú đó, nội việc sưu tầm những hộp quẹt đã được sử dụng bởi các quân nhân Mỹ tham chiến tại Việt Nam cũng đã thu hút sự quan tâm của giới sưu tập.

Một cựu chiến binh Mỹ đã từng tham gia chiến tranh Việt Nam tâm sự:

“Chiếc Zippo thực sự là bức tranh tái hiện một cách chân thật những tâm trạng và cảm xúc của người lính. Chúng cũng có thể là di vật cuối cùng người lính trước khi tử trận. Giờ đây, đối với nhiều người, chiếc hộp quẹt Zippo sẽ là một kỷ niệm vô giá của quá khứ”.

Chiếc Zippo có một lịch sử gắn liền với quân đội Hoa Kỳ từ thời đệ nhị thế chiến. Chính xác hơn là năm 1945 đã có một số quân nhân Mỹ được gửi sang Việt Nam giúp lực lượng kháng chiến Việt Minh chống lại quân đội Nhật trong cuộc chiến tại Thái Bình Dương.

Thời chiến tranh Đông Dương, có các loại hộp quẹt Olympic và Drago dùng trong quân đội Pháp. Trong trận Điện Biên Phủ cũng có một số phi công người Mỹ tại các căn cứ Gia Lâm và Bạch Mai, họ cũng tặng một số Zippo cho các phi công lái Dakota người Pháp để làm kỷ niệm.

Tại Việt Nam thời chiến tranh Đông Dương, người Pháp còn có lực lượng Quân đội Viễn chinh (La Légion Étrangère), còn được gọi là đội quân “Mũ Kepi Trắng” (Les Képi Blanc). Họ là những binh sĩ cuối cùng rời khỏi Hà Nội năm 1954 khi Hiệp định Genève được ký kết.

Hộp quẹt của Đội quân Viễn chinh Pháp tại Việt Nam trong cuộc Chiến tranh Đông Dương

Tại Nhật Bản, các nhà sưu tập lại chú ý đến hình ảnh “người phụ nữ Á Đông và con chim hòa bình” (La femme à l’oiseau) được khắc trên hộp quẹt Zénith là một kỷ vật từ thời kỳ PX (Post Exchange – một hình thức các cửa hàng bán lẻ phục vụ quân đội Hoa Kỳ) được mở cửa tại đây.

“La femme à l’oiseau” – Kỷ niệm từ Nhật Bản

Trong cuộc chiến Triều Tiên cũng đã có sự tham gia của quân đội Hoa Kỳ và như thế, chiếc Zippo theo chân người lính ra tận chiến trường.

Zippo từ thời chiến tranh Triều Tiên (1952)

Zippo được sản xuất theo từng đợt và mỗi đợt đều có “code” nằm bên dưới đáy hộp quẹt. Với những mã số này, người sưu tầm có thể xác định niên đại cũng như đánh giá sự quý hiếm của Zippo mà mình sở hữu.

Code Zippo sản xuất năm 1952, thời Chiến tranh Triều Tiên

 

Zippo sản xuất năm 1967 thời Chiến tranh Việt Nam

 

Zippo sản xuất năm 1968

Những dòng chữ được khắc trên hộp quẹt trong chiến tranh Việt Nam có code từ các năm 1965 đến 1973. Đó là thời điểm quân đội Hoa Kỳ đến và rút khỏi Việt Nam theo Hiệp định Paris.

Có hai cách khắc chính trên hộp quẹt: khắc bằng tay (thủ công) và khắc bằng máy (được gọi là “máy vẽ (khắc) truyền” – Pentograph). Nhiều khi người lính cũng tự khắc lấy và những “tác phẩm điêu khắc” mộc mạc này nhiều khi còn quý hơn đối với những người sưu tập!

Thợ khắc thủ công

 

Máy vẽ (khắc) truyền” – Pentograph

 

Lính Mỹ khắc hộp quẹt tại Sài Gòn

Những thông điệp khắc trên hộp quẹt rất đa dạng. Từ những câu triết lý nghiêm trang “To love each other is not to look at each other but to look together at the same aim” đến những câu bất cần đời theo ngôn ngữ của lính “If I had a farm in Vietnam and a home in hell. I’d sell my farm and go home”. Từ những tâm trạng khắc khoải của người lính xa nhà “I can’t live without you, I can’t anymore but I can’t die” đến những ngán ngẩm trước sự chết chóc “There is nothing so sweet as the smell of death in the morning”.

Thông điệp trên hộp quẹt…

…là những gửi gắm nỗi lòng

Zippo cũng xuất hiện trong quân lực VNCH với huy hiệu của các binh chủng như Nhảy dù, Thủy quân Lục chiến, Biệt động quân, Biệt kích 81…

Zippo của binh chủng Nhảy Dù.

Đặc biệt hơn cả là những chiếc hộp quẹt quà tặng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu kèm theo chữ ký. Những món quà này thường được tặng cùng với “Anh dũng Bội tinh” hay “Chiến thương Bội tinh” dành cho những quân nhân xuất sắc.

Quà tặng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu

 

năm con heo nhớ chuyện lợn trại tù

  • lhtc
(trong đời, có những lúc thật khó khăn để vượt qua những điều rất tầm thường!)lhtc

Căn cứ Nancy 1972

Qua năm thứ hai tôi được chuyển về T6 là T ở tận cùng của trại tù cải tạo gồm nhiều T.

Một buổi tối, các nhà đã tắt đèn theo tiếng kẻng ngủ đã lâu, chợt có tiếng những bước chân rõ dần cùng những nhoang nhoáng ánh quét đèn pin, rồi dừng lại trước cửa buồng của tổ X chúng tôi gần hai chục người.
” Bật đèn lên !”, một giọng bắc ngắn ngủi ra lệnh. Chúng tôi lồm cồm ngồi dậy, vén màn chui ra chờ lệnh tập họp. Đèn sáng, trước mặt chúng tôi là một anh cán bộ lạ mặt tay cầm đèn pin, tay kia cầm một quyển sổ nhỏ ghi chép, đi theo sau là hai người vệ binh với cây AK khoác trên vai, vẻ mặt hờ hững, không giống như vài lần điểm danh “đột xuất” với chỉ một người quản giáo quen thuộc mà anh em thường gọi thầm là “thằng Đen”.
mời xem tiếp

Tưởng Nhớ Cô Giáo Nguyễn Thị Kim Cúc : Đóa Hoa Cho Đời

  • mai phương

Giữa những ngày người Việt ở thành phố Hồ Muối rộn rã đón Tết, Chị lặng lẽ ra đi – 15 tháng 2, 2015 – 27 Tết – sau Lễ Hội Mừng Xuân Ất Mùi của Cộng Đồng 1 ngày.

Tờ Bản Tin vừa phát hành, với hình Chị mặc áo dài đen – cùng nguyên Chủ Tịch Cộng Đồng Tom Huỳnh – đứng đầu đoàn diễn hành của Cộng đồng Việt tại thành phố Eagle Mountain, Utah vào tháng 6 năm 2004 được dùng làm “hình chủ” trong bài viết công phu của ông Phan Công Tôn – “40 năm nhìn lại – Lịch sử việc thành lập các Hội Đoàn người Việt tại tiểu bang Utah (1975-2015) – chưa kịp mang tới cho Chị đọc.

Hỏi cháu Nam Trân, con có Cáo Phó thì cho cô xin để post lên Trang Nhà Cộng Đồng. Nhiều người quý mến mẹ con lắm. Cũng nên cho người ta biết.

Nam Trân từ chối: Mẹ con dặn không đăng Cáo Phó . Không báo tin. Nếu Cô biết được ai thì Cô nhắn dùm con.

mời xem tiếp

Võ Ý – Ma lực của Pleiku

Võ Ý, K17/Đa Hiệu số 115

Tôi từ Phi Đoàn 110 Đà Nẵng thuyên chuyển về Phi Đoàn 114 Nha Trang đầu năm 1965 và tôi biết Pleiku qua những kỳ biệt phái.
Lúc bấy giờ, Không Quân Pleiku đồn trú trong phi trường Cù Hanh, được gọi là Căn Cứ 92 Chiến Thuật, trách nhiệm phòng thủ vòng đai phi trường và điều động các phi vụ yểm trợ hành quân thuộc lãnh thổ Quân Khu II.

Do đà phát triển của Không Lực, khoảng cuối năm 1971, Căn Cứ 92 Chiến Thuật biến thành Không Đoàn Yểm Cứ Pleiku, đồng thời Không Đoàn 72 Chiến Thuật (KĐ72CT) ra đời và tôi thuộc quân số của đơn vị tân lập tại cái xứ nắng bụi mưa sình này.

mời xem tiếp

It’s empty! Totally empty …

CHICO, Butte CountyThe number of people missing in the Camp Fire disaster jumped to 631 Thursday and officials said the death toll has risen to 63.

Butte County Sheriff Kory Honea delivered the grim news at a Thursday evening press conference, explaining that the list of missing skyrocketed after authorities did a comprehensive review of 911 calls and missing-persons reports.
(SFGate News, Nov. 14, 2018)

Tin tức về đám cháy rừng có tên Camp Fire tại miền bắc California tiếp tục nóng hơn theo con số nạn nhân tử vong và mất tích ngày càng tăng cao.

Vào tối thứ Năm 15 tháng 11, Sở cảnh sát Butte County cho biết đã có 63 trường hợp xác nhận thiệt mạng, 633 người mất tích, khiến Camp Fire trở thành trận hỏa hoạn của thiên nhiên gây chết người nhiều nhất Hoa Kỳ trong vòng 1 thế kỷ qua.

Bên cạnh nhân mạng, ngọn lửa đã lan rộng 140,000 acre, thiêu hủy 11,862 kiến trúc các loại, và chỉ 40%. được khống chế .

Tại miền nam California, đám cháy Woolsey Fire đang hoành hành cũng đạt kỷ lục là một trong những đám cháy lớn nhất trong lịch sử LA County trong hơn 100 năm qua. Vụ cháy đã thiêu hủy 504 ngôi nhà, gây hư hại 96 ngôi nhà khác, và đe dọa 57,000 ngôi nhà.

Ngoài ra, cũng sáng thứ Năm, một đám cháy mới bùng lên tại vùng Santa Paula thuộc Ventura County . Đám cháy Briggs Fire rộng khoảng 75 đến 100 acre, nằm ở phía nam xa lộ 126.

Những đám cháy khiến tôi nhớ lại khuôn mặt ngơ ngẩn của một ông cụ người Mỹ và câu nói thảng thốt của ông: “It’s empty! Totally empty …” trong trận hỏa hoạn do bà mẹ thiên nhiên gây ra tại thị trấn Lytle Creek, California 15 năm trước.

  • trầm hương (UT)

 

Lại thêm một buổi sáng ở Little Saigon. không phải là mù sương như những sớm mai thành phố lãng đãng sau màn sương đục huyền ảo khi mùa Thu khởi đầu mà là mù tro và hơi khói từ Rancho Cucamonga thuộc hạt San Bernadino tràn đến.

Sáng qua, 25 tháng 10, cùng với cái lạnh se se của Nam Cali, tôi ngó những mảnh trăng trắng bay li ti trong không gian. Ô hay, Cali cũng có tuyết sáng nay ư? Lòng bỗng dưng chao đi với những mảnh tuyết từ phố Núi vụt ào đến. Những con đường “quê tôi” đã úa lá chưa nhỉ? Hàng cây mapple trên lối dẫn đến nhà có đang thắp nến lên hai hàng? Hẳn rằng nơi ấy đang lạnh lắm, lạnh như hồn tôi cũng đang đẫm cái lạnh, nỗi cô đơn ùa đến buổi sáng hôm nay. Thì ra đâu cũng có … tuyết .

Anh Thanh- người đưa thư của khu phố chúng tôi- tươi cười bước vào tiệm.
-Chào cô Hương, cô khoẻ không ? Gớm, hôm nay tro nhiều quá cô ạ! Thở chẳng ra!
Ngày nào cũng thế, hình ảnh anh Thanh với chiếc mũ rơm có gắn cái nơ trông như mũ đàn bà và nụ cười tươi tắn, những câu hỏi thăm nồng ấm mang theo đôi tin tức cập nhật trong ngày, luôn làm tươi lên một ngày làm việc của tôi nơi đây. Đã có lần, một khách hàng láu lỉnh ngó cái mũ của anh Thanh:
– Này, cái mũ này là đồng phục của nhân viên bưu điện đấy à!
Tôi nén cười. Anh Thanh thật thà:
– Dạ không, tôi đội cho mát đấy mà! Nghề chúng tôi cứ lội nắng cả ngày, không có nó thì đến chết.
Người khách chưa tha:
– Anh mua ở đâu thế ? Trông … xinh đấy . Kiếm cho tôi một cái nhá!
Lần này thì tôi bật cười thành tiếng. Anh Thanh vẫn hồn nhiên:
– Ối dào, chả biết mua ở đâu. Con gái tôi nó vứt đấy. Tôi tiếc, lấy đội đi làm. Nhiều người thích lắm nhá (Anh cười nheo cả mắt). Đã mấy người nhờ tôi mua dùm rồi.
Tôi quay sang người khách, nháy nhó ra hiệu ông đừng đùa dai nữa. Người khách phì cười:
– Vâng, cảm ơn anh. Đưa thư vui nhé anh!

Tin tức về những đám bụi tro (chứ không phải tuyết) khiến tôi chưng hửng:
– Cháy ở đâu vậy anh Thanh?
– Cô Hương không biết à? Ở San Bernadino đấy. Lạy Chúa, cả trăm người không còn nhà để ở. Cô không thấy trời hôm nay lạ lùng sao? Ban ngày mà i như nhật thực.

Anh nói tôi mới nhớ. Sáng sớm, mải miết chạy đi lấy hoa, bầu trời đùng đục sương trắng, mênh mang cái lạnh ngoài trời và trong lòng. Về tiệm, cắm cúi bên giỏ hoa tropical to đùng người ta đặt, tôi có biết trời đất ra sao, ngoài những mảnh “tuyết” bất chợt nhìn thấy. Có một lúc, ngó mông ra bên ngoài, chao ơi, nắng hôm nay sao đẹp lạ! Phơn phớt một mầu hồng đào tuyệt vời. Nắng như nắng quái chiều hôm. Sao thế nhỉ ? Chao ơi, giá chi được lái xe ra biển. Chao ơi, đất trời Cali…
Bây giờ thì tôi hiểu rồi.

Trưa, anh Quân nói với tôi:
– Xe Hương bẩn quá! Anh em mình đóng cửa tiệm đi ăn rồi anh lái xe Hương đi rửa luôn.
Tôi cãi:
– Xe em sạch lắm mà. Chả cần đâu .
Anh bảo, Ra mà xem.
Tro, tro phủ 1 lớp dầy nhem nhuốc cùng khắp. Mầu sơn trắng càng nổi bật hơn những hột tro xám trắng li ti. Tuyết của tôi sáng qua đó.


“It’s empty! Totally empty …”

Người đàn ông Mỹ già đứng bên cạnh bà vợ, nét mặt ngẩn ngơ trả lời phóng viên đài truyền hình. Trái tim tôi buốt lên đau nhói. Chưa bao giờ tôi thông cảm và hiểu được cái mất mát tận cùng của câu nói “Empty , totally empty” mà ông dùng như lúc này. Ông đã không còn đủ thời gian để làm lại bất cứ một điều gì. Nhất là KỶ NIỆM. Ngọn lửa đỏ le lưỡi liếm hừng hực phía xa. Mẹ tôi kể, Cháy nhà sợ lắm con ạ. Lửa i hệt cái lưỡi dài, liếm một cái là mất sạch. Đó là ngọn lửa in hằn trong ký ức bà của ngày Bình Xuyên đốt trụi lủi căn nhà đầu tiên ông bà vừa gầy dựng nên thuở chân ướt chân ráo từ Bắc vào Nam.
Tôi tưởng tượng chiếc áo cưới trinh nguyên nằm trang trọng trong một góc nào đó của cái closet. Những bức ảnh đen trắng ố vàng, thời cha ông cụ kỵ. Rồi những hình ảnh thuở hai người cười tươi ngày khăn áo buộc đời nhau. Hình con cái của 2 ông bà nữa! Làm sao kéo thời gian lùi lại để có được những bức ảnh ngày xưa? Làm sao để ông bà đủ sức kéo cày tạo dựng lại một ngôi nhà khác? Sự khánh tận đến mức tận cùng, chẳng phải sao, từ quá khứ đến hiện tại!

Lửa vẫn còn đang cháy. Đã 200 căn nhà góp thêm bụi cho những thành phố lân cận. Rồi sẽ đến những căn nhà nào khác nữa như tâm trạng hoảng loạn của cư dân tại thị trấn Lytle Creek mấy ngày rồi.

Mùi khét tràn ngập Little Saigon sáng nay. Gió Santa Ana ơi đừng thổi nữa! Tro bụi luồn qua khe cửa kính xe mở ngỏ qua đêm, phủ đầy nệm xe tôi. Mặt trời đỏ rực, nổi lên một quầng tròn sau làn mây đục khói nặng nề.

– Good morning Artist’s Flowers!
Tiếng chuông điện thoại, tôi trả lời như cái máy. Lẫn trong tiếng xe cộ, giọng Quỳnh Hương cấp bách:
– Mỹ Ngọc đã phone cho TH chưa?
– Chưa. Chuyện gì vậy?
– Cháy ở phía nhà Mỹ Ngọc. Mỹ Ngọc ôm ít đồ, chạy ra khỏi nhà rồi!
– Cái gì, nhà MN ở mãi San Diego mà! Làm sao lửa tới?
– Đám cháy này khác!

Có thật không? Mùi khét vẫn đang bao trùm cả thành phố. Hôm nay là ngày của Chúa. Chúa Nhật 26 tháng 10, 2003. Và bây giờ là 11:32 phút.

Trầm Hương

tháng 9, tiếng trống….

trầm hương (UT)

Anh B nói với tôi, “Tôi tính đăng bài thơ của Trần Mộng Tú trên giai phẩm Xuân mà sợ bà con phê bình tờ báo không đàng hoàng”.

Đó là những ngày cuối năm 1994. Anh B hơn tôi nhiều tuổi nhưng luôn giữ kẽ trong cách xưng hô. Anh là một người làm báo rất cẩn trọng. Cùng trong một thành phố nhưng mỗi năm, chúng tôi gặp nhau đôi khi một lần. Đôi năm chẳng có lần nào. Nhưng không có nghĩa là tôi ít quý trọng anh. Trái lại là khác.

Tiểu bang chúng tôi ở có truyền thống đạo giáo nghiêm nhặt. Cái đạo không cho phép tín đồ được uống rượu bia, cà-phê, hút thuốc. Ngay cả nước ngọt  có … mầu (như Coke, Pepsi hay Dr Pepper) cũng không. Nhưng bù lại, người đàn ông được quyền có nhiều “phòng”.  Điều đáng buồn cho những người đàn ông đó là bây giờ, luật pháp nước Mỹ đã ngăn cản cái quyền được nhiều vợ (để phát triển tín đồ) và người phụ nữ cũng không muốn vì đạo mà phải chia sẻ tấm tình chung. Chỉ còn rất ít người dân theo giáo phái Đa Thê (Polygamy) là còn ráng giữ cái sức mạnh của người đàn ông trong gia đình như thế .

Cái chuyện anh B sợ bà con phê bình tờ báo không đàng hoàng- dĩ nhiên- không phải là anh sợ những người dân bản xứ đạo đức. Chỉ là số người tỵ nạn Việt Nam tuy nhỏ nhưng cũng dễ gây thành chuyện xầm xì từ đầu làng đến cuối ngõ đấy thôi.

Tôi nói, Em chưa đọc  thơ Trần Mộng Tú bao giờ. Anh cho em xem thử.

Và tôi đã yêu thơ Trần Mộng Tú từ đó.

Bài thơ có nhiều lần người nữ “mở áo cho Xuân coi lồng ngực”. Xuân không phải tên của một chàng thanh niên nào cả. Xuân là mùa Xuân. Là lồng ngực cô mang trái tim thắm đỏ những nhung nhớ thương yêu của quê cũ, của chờ đợi; của thủy chung tìm kiếm; của ngậm ngùi xót xa cho phận mình.

…  Đã lâu quá anh không về gõ cửa
lồng ngực em. Trái đỏ vẫn còn nguyên
Ôi! Có phải mùa Xuân đang nhóm lửa
Tay lạnh thế này, ai sưởi cho em

(Gọi anh mùa Xuân- Trần Mộng Tú)

Tôi yêu cái nồng nàn lãng mạn của chị Trần Mộng Tú. Mở bất cứ tờ tạp chí hay sách báo Việt ngữ nào có trong tay, tôi cũng đều tìm xem có thơ Trần Mộng Tú hay không. Chị làm mới ngôn ngữ mà không cần làm dáng. Đam mê của chị nóng bỏng nhưng lại dịu dàng biết bao. Tháng 9, mùa tựu trường của cả nước Mỹ, tôi không còn nhớ đến Thanh Tịnh với đoạn văn vượt không gian và thời gian, “Hằng năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những áng mây bàng bạc….” mà trong tôi là bùi ngùi những câu thơ của Trần Mộng Tú:

Tôi đứng trong sương nhìn chuyến bus
Sáng nay vừa đậu ở bên đường
Những em áo đẹp tay cầm sách
Tóc tung trong gió cùng đến trường

Chốc nữa khi ngồi trong lớp học
Em viết gì giữa trang vở mới tinh
Tôi vạch một đường trên trang giấy
Nối tuổi già tôi với bình minh

Tôi vạch một đường trên trang giấy
Kéo thời gian lại với tuổi tôi
Kéo trường kéo lớp thời xưa cũ
Kéo cả quê hương ở cuối trời

Chốc nữa khi ngồi trong lớp học
Thầy vẽ tương lai trên bảng đen
Em có để hồn ngoài cửa lớp
Bụi phấn bay theo mỗi cánh chim

Tôi vạch một đường trên trang giấy
Mùa thu xưa bỗng lạnh quanh đây
Dĩ vãng khô như bình mực cạn
Tiếng trống rung trong bộ ngực gầy

(Khai trường- Trần Mộng Tú)

 

Tháng Chín, cùng với những cô cậu học trò nhỏ xinh xắn trông thơm ngon như viên kẹo mới, tung tăng trong những bộ quần áo đẹp đẽ đến trường, còn là hình ảnh của Bob, người dẫn đường (Crossing guard) của Horizon Elementary School cạnh nhà chúng tôi nữa.

Dạo ấy, Bob độ ngoài 60. Trông ông tráng kiện lắm với thân hình to cao. Khuôn mặt lúc nào cũng rạng rỡ nụ cười trẻ thơ không thua gì bầy học trò nhỏ. Ngày hai bận, tôi dẫn con đi bộ tới trường. Bao giờ ông cũng có những câu chào hay đùa vui cùng mẹ con tôi. Dần dà, thân hơn, lân sang những câu hỏi thăm đời sống riêng nhau. Một lần, ông than, nhà cửa ông dơ bẩn quá mà thiếu người lau chùi dọn dẹp.  Ông hỏi tôi có biết ai thì giới thiệu dùm. Ông chỉ có thể trả được 7$/ giờ. Không phải làm mỗi ngày nhưng mỗi 2 tuần một lần. Tôi đang vô công rỗi nghề, thấy tội, nhiệt tình: “Tôi có thể dọn cho ông được”. Ông hớn hở: “Thật nhé!” Ông hí hoáy viết địa chỉ. Nhà ông chỉ cách nhà chúng tôi con lộ chính. Cũng tiện.

Chồng tôi kêu lên: “Sao em thật thà cả tin quá thế! Nhỡ em qua, ổng nổi hứng…. bậy bạ thì sao?”. Tôi yếu ớt: “Tội ổng. Ổng già rồi. Xem ra cũng đứng đắn. Anh đừng lo”. Chồng tôi biết tính vợ, thở dài: “Thôi thì em giúp cho ổng một lần này thôi. Anh không muốn em làm việc kiểu vậy. Nói với ổng, em không rảnh. Nhớ chưa! Có đi thì dẫn cả …. 2 đứa con phòng hờ”. Tôi bật cười. Một đứa 6 tuổi, con gái. Một đứa 4 tuổi, con trai. Dù sao anh cũng có lý vì ít ra, khi cần, ba cái miệng cùng hét cũng to hơn một cái.

Cái công việc làm-chỉ-một-lần đó đã diễn ra suông sẻ. Kỷ niệm mà con gái tôi bây giờ còn nhớ là Bob dặn nó phải đi vớ trong nhà ông cho khỏi hôi chân. Và cái giường waterbed của ông thì là cả một kỳ quan, i như cái thuyền vĩ đại để chị em nó ngồi lái. Ông chỉ hơi buồn khi nghe tôi nói sẽ không còn rảnh nữa. Điều đáng nói là sau đó, ông tâm sự với tôi là ông thích phụ nữ Việt Nam. “Bà có thể kiếm cho tôi một lady Việt Nam để tôi làm bạn không?”

Vợ ông chết đã 5, 6 năm gì đó. Ông già ăn lương hưu. Vui vẻ. Có nhà cửa khang trang. Dám thêm cả khối tiền tiết kiệm trong nhà băng lắm à. Tôi làm con tính nhẩm kiểu mấy bà nội trợ, hân hoan nghĩ đến cô bạn thân xấp xỉ 40, độc thân chánh hiệu vừa từ Việt Nam qua, đang tạm làm housekeeper tại khách sạn Little America.

Tôi là một người bán hàng dở ẹc. Món hàng đưa ra, chùi bóng những ưu điểm (To cao. Vui vẻ. Đàng hoàng. Có nhà cửa. Không phải lo nuôi …. chồng); dấu bớt khuyết điểm (Già. Xấu đẹp tùy người đối diện), bạn tôi nghe với khuôn mặt càng lúc càng khó coi. Cuối cùng, bạn tôi buông thõng: “Bộ H tưởng Q chỉ lấy được Mỹ già hay sao? Nghèo thì nghèo, chỉ nghĩ nắm cái tay nhăn nheo, Q đã ớn. Cám ơn”.

Bạn cắt cái rụp tấm lòng thương người của tôi. Quả thật, tôi đã chỉ nghĩ đến chuyện bạn tôi cần một “người bạn” để có thể dựa đỡ mà quên đi nhiều điều. Tôi vớt: “Thế thì Q có bà bạn đồng nghiệp nào, giới thiệu dùm ổng”. Bạn tôi chừng như lấy lại được danh dự của mình, rộng rãi: “Ừ. Để Q hỏi bà L thử coi. Cái bà này cũng già rồi, qua theo diện có con lai. Gần 50 mà ngựa lắm. Hồi xưa bả là vũ nữ mà”. Tôi nghe lý lịch hơi rét. Q bảo, “Thây kệ. Thì giới thiệu họ làm bạn. Được thì được. Không được thì dang. Có ai còn trẻ trung nữa đâu!”.

Tôi kể với Bob về người bạn gái tương lai của ông. Bob sáng mắt: “Bả tên gì? Để tôi đến Little America tìm bả trước”.

Ông già thế mà nhiều lửa thật. Ông khoe với tôi 2 hôm sau: “Tôi gặp L rồi. Bả dễ thương lắm. Tôi hẹn sẽ đi chơi với bả someday”.

Tôi thuật lại với Q.

Q cười bò, “Bà L xấu hoắc. Cao, gầy tong teo. Trông khô như con mắm. Da men mét mà ổng khen được cũng hay.”

Chuyện tình sôi bỏng được hơn một tháng thì tịnh. Bà L kể với bạn tôi, lần hẹn đầu tiên, ông già rủ bả đi chơi bowling. Bả lịch sự ( mà cũng không đủ chữ để nói dài hơn Yes hay No) đi theo ngó. Sau đó, về nhà…. bình an.

Lần thứ hai, cũng bowling.

Lần thứ ba, bả không chịu, đòi đi Wendover đánh bài. Sau 3 tiếng ở sòng bài, Bob rủ bả về nhà Bob. Ông già bị bà L chê yếu xìu. “Trông to con mạnh khoẻ mà chẳng nên cơm cháo gì”.

Thế là xong.

Tôi không dám hỏi Bob dạo này ông ra sao. Chỉ thấy ông vẫn cười hồn nhiên: “Tôi thích bowling lắm. Tuần phải đi vài tối”. Cũng được. Tôi đâu trách nhiệm gì trong mối tình về chiều của họ. Những cái con quay (pin) ngã rạp xuống chịu thua trước quả banh nặng chính xác ông lia tới. Chúng nào dám chê ông to con mạnh khoẻ mà chẳng nên cơm cháo gì như người đàn bà Á Đông nọ.

.

Những đứa con tôi lớn dần. Chúng không cần phải nắm tay mẹ đến trường. Từ nhà, qua khung cửa sổ, tôi có thể nhìn thấy chúng vừa đi vừa lăng quăng đá những vật lỉnh kỉnh trên đường I hệt như tôi thuở nhỏ. Ông Bob biến mất từ lúc nào tôi không rõ. Ông dọn nhà sang thành phố khác hay ông đã chết? Các con tôi cũng không rõ.

Nhưng mỗi năm, vào mùa tựu trường, ngang qua những ngã tư gần trường tiểu học, sao tôi vẫn nhớ hoài ông Bob. Và hồn thì ngùi ngùi âm vang của Dĩ vãng khô như bình mực cạn. Tiếng trống rung trong bộ ngực gầy.

trầm hương (UT)