năm con heo nhớ chuyện lợn trại tù

  • lhtc
(trong đời, có những lúc thật khó khăn để vượt qua những điều rất tầm thường!)lhtc

 

Căn cứ Nancy 1972

Qua năm thứ hai tôi được chuyển về T6 là T ở tận cùng của trại tù cải tạo gồm nhiều T.

Một buổi tối, các nhà đã tắt đèn theo tiếng kẻng ngủ đã lâu, chợt có tiếng những bước chân rõ dần cùng những nhoang nhoáng ánh quét đèn pin, rồi dừng lại trước cửa buồng của tổ X chúng tôi gần hai chục người.
” Bật đèn lên !”, một giọng bắc ngắn ngủi ra lệnh. Chúng tôi lồm cồm ngồi dậy, vén màn chui ra chờ lệnh tập họp. Đèn sáng, trước mặt chúng tôi là một anh cán bộ lạ mặt tay cầm đèn pin, tay kia cầm một quyển sổ nhỏ ghi chép, đi theo sau là hai người vệ binh với cây AK khoác trên vai, vẻ mặt hờ hững, không giống như vài lần điểm danh “đột xuất” với chỉ một người quản giáo quen thuộc mà anh em thường gọi thầm là “thằng Đen”.

Anh cán bộ có vẻ vội vàng, xua tay nói, “khỏi, khỏi, khỏi tập họp”. Anh liếc xuống trang giấy mở sẵn của quyển sổ nhỏ, rồi ngẩng mặt nhìn chúng tôi hỏi, “Có anh Nguyễn văn Y. trong phòng này không ?”. Tim tôi chợt nhói lên như sau một nhịp đập hụt. Tôi hít mạnh khí trời vào đầy lồng ngực, và lòng tự nhiên bình tĩnh lại với cảm giác thanh thản. Chẳng phải tôi vẫn chờ đợi giây phút này sẽ phải đến hay sao, nhất là sau những lần di chuyển lòng vòng, từ tổ An Ninh Cảnh Sát không đi Bắc, đến tổ Tù Binh và Chiêu Hồi …. hay từ vài lần phải lên khai bổ túc cũng như trả lời thêm những câu hỏi về Liên Minh Á Châu Chống Cộng, một tổ chức tôi có tham gia trong phạm vi chuyên môn và vị tình bè bạn thời đi học.

Tôi trả lời “có tôi”, và đứng dậy gỡ màn để khởi đầu thu xếp hành trang cho một chuyến chuyển trại ban đêm mà có lẽ, lành ít dữ nhiều. Anh cán bộ lại khoác tay, “khỏi, khỏi phải mang gì, anh thay quần áo đi theo chúng tôi ngay !”. Tôi mặc vội bộ quần áo lao động, xỏ chân vào đôi dép tự chế, bước đi theo ba người: một vệ binh phía trước, người cán bộ đi bên cạnh, phía sau là người vệ binh còn lại. Đèn phòng đã tắt, nhưng những ánh mắt ngơ ngác và ái ngại của anh em cùng tổ vẫn bám theo những bước chân nặng nề cùng trí óc chợt như trống rỗng của tôi…

mời xem tiếp

Advertisements

Tưởng Nhớ Cô Giáo Nguyễn Thị Kim Cúc : Đóa Hoa Cho Đời

  • mai phương

Giữa những ngày người Việt ở thành phố Hồ Muối rộn rã đón Tết, Chị lặng lẽ ra đi – 15 tháng 2, 2015 – 27 Tết – sau Lễ Hội Mừng Xuân Ất Mùi của Cộng Đồng 1 ngày.

Tờ Bản Tin vừa phát hành, với hình Chị mặc áo dài đen – cùng nguyên Chủ Tịch Cộng Đồng Tom Huỳnh – đứng đầu đoàn diễn hành của Cộng đồng Việt tại thành phố Eagle Mountain, Utah vào tháng 6 năm 2004 được dùng làm “hình chủ” trong bài viết công phu của ông Phan Công Tôn – “40 năm nhìn lại – Lịch sử việc thành lập các Hội Đoàn người Việt tại tiểu bang Utah (1975-2015) – chưa kịp mang tới cho Chị đọc.

Hỏi cháu Nam Trân, con có Cáo Phó thì cho cô xin để post lên Trang Nhà Cộng Đồng. Nhiều người quý mến mẹ con lắm. Cũng nên cho người ta biết.

Nam Trân từ chối: Mẹ con dặn không đăng Cáo Phó . Không báo tin. Nếu Cô biết được ai thì Cô nhắn dùm con.

mời xem tiếp

Võ Ý – Ma lực của Pleiku

Võ Ý, K17/Đa Hiệu số 115

Tôi từ Phi Đoàn 110 Đà Nẵng thuyên chuyển về Phi Đoàn 114 Nha Trang đầu năm 1965 và tôi biết Pleiku qua những kỳ biệt phái.
Lúc bấy giờ, Không Quân Pleiku đồn trú trong phi trường Cù Hanh, được gọi là Căn Cứ 92 Chiến Thuật, trách nhiệm phòng thủ vòng đai phi trường và điều động các phi vụ yểm trợ hành quân thuộc lãnh thổ Quân Khu II.

Do đà phát triển của Không Lực, khoảng cuối năm 1971, Căn Cứ 92 Chiến Thuật biến thành Không Đoàn Yểm Cứ Pleiku, đồng thời Không Đoàn 72 Chiến Thuật (KĐ72CT) ra đời và tôi thuộc quân số của đơn vị tân lập tại cái xứ nắng bụi mưa sình này.

Bất cứ một quân nhân thuộc bất cứ Quân Binh Chủng nào, khi nói đến Pleiku là nghĩ ngay đến một địa danh đầy bất trắc và buồn tẻ. Chỉ cần nghe âm thanh “Pleiku” là đã mường tượng được vẻ rùng rợn hoang tịch và kỳ bí của núi rừng. Cho nên có thể nói, Pleiku là tận cùng, là đáy của 4 Vùng Chiến Thuật!

Ở địa đầu giới tuyến dù sao cũng còn Huế cổ kính thơ mộng, Đà Nẵng phố thị rộn ràng, phố cổ Hội An một thời thương thuyền tấp nập. Còn Pleiku, dù nơi đây có bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II trấn đóng, nhưng thành phố gì mà đi dăm phút đã về chốn cũ, nắng thì bụi, mưa thì sình, đâu đâu cũng gặp toàn lính là lính…
Đã là đáy, là tận cùng thì xá gì những ngày tháng trấn thủ lưu đồn, cho nên Pleiku không thiếu những lính ba gai, những quan bất mãn. Chỉ có những đơn vị “trừng giới” mới dung nạp những “tay anh chị” này và lạ lùng thay, họ luôn luôn lập nên những chiến tích lẫy lừng tại mặt trận Tây Nguyên dù không ít nhiều gây nhức đầu cho các ông Quân Cảnh ở hậu phương!

Đúng, Pleiku là thành phố lính!

Người lính sinh quán từ khắp mọi miền đất nước, có dịp lên Pleiku thi hành nghĩa vụ người trai, không ít người nghĩ rằng, họ đi đày! Vậy mà khi nói đến Pleiku, những lính ba gai, những quan bất mãn đó vẫn còn một chút gì để nhớ đến là tại làm sao?

Không Quân Nguyễn Hữu Thiện, Sĩ Quan Báo Chí Căn Cứ Không Quân Pleiku, đã nói về nỗi nhớ Pleiku như sau: “Tôi nhớ tới một ngàn ngày đói rách ở Pleiku hơn là ba năm phây phả ở Biên Hòa.” (LLDNCT, trang 363.)

Những cư dân Pleiku, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất quê hương, có lý do để yêu mến quê hương của họ. Chúng tôi rất tâm đắc với tâm tình của thầy Nguyễn Đăng Dự, Hiệu Trưởng và là Giáo Sư các trường Trung Học Pleiku, qua Vạt Nắng Bên Thềm:
“Có những lúc ngồi trong thư viện, chồng sách trước mặt, nghe xí xa, xí xồ chung quanh bằng một ngôn ngữ xa lạ, hồn tôi đã quay về với căn nhà số 13 đường Yên Đổ, Pleiku. Con đường không tráng nhựa lầy lội ngày mưa mà tôi ghét cay ghét nghiệt ngày nào, nhưng lúc đó tôi đã thèm được trở về để lại được rón rén bước chân tránh những vũng bùn. Tôi nghĩ tới ánh mắt buồn rười rượi của con chó thân yêu. Tôi thèm được ngửi lại mùi hương thoảng nhẹ của bụi hồng nhỏ góc vườn mỗi khi lách xe ra khỏi cổng trước khi đến trường. Tôi muốn được chung quanh tôi là tiếng lao xao bằng một ngôn ngữ Việt thân quen của các em học sinh trong những lớp học ngày xưa!”

Qua tâm tình trên thì một giáo chức đương nhiên yêu mến phấn trắng, bảng đen và các học sinh của mình, nhưng vì sao vị thầy lại nhớ cả mùi hương thoảng nhẹ của bụi hồng và con đường lầy lội trước nhà? Phải chăng tấm lòng thương nhớ Pleiku cũng là một biểu hiệu của nỗi nhớ nước, thương quê?

Cá nhân chúng tôi cũng rất yêu mến Pleiku, nhưng không hẳn vì em Pleiku má đỏ môi hồng mà vì… muốn học tính khí của Từ Hải! Xin mời nghe Từ Hải dỏm lý sự cùn: “Mỗi người sống ở Pleiku và yêu Pleiku theo cảm nghĩ riêng. Tôi cũng yêu Pleiku theo cách cảm nghĩ của riêng tôi. Pleiku là nơi chốn tôi đã tình nguyện đến. Pleiku thách đố bổn phận và trách nhiệm của một quân nhân. Pleiku đối với tôi còn là một địa danh để tôi có cơ hội thể hiện cung cách phục vụ Quân Chủng thân yêu của mình.” (LLDNCT, trang 363.)

Nhà thơ Du Tử Lê không phải mộng mị mà viết lên rằng: “Vũ Hữu Định đã đội vương miện cho Pleku.” Với vương miện này, bài ca “Còn Một Chút Gì Để Nhớ” đã được hát ròng rã khắp miền Nam từ 1965 và ròng rã trong các trại tù miền Bắc sau 1975 cho tận ngày nay…

Ngày nay, khi nói đến sự hấp dẫn của bất cứ một địa danh nào, người ta thường dùng mấy từ đi về, trai gái, vợ con để nói về sức hấp dẫn của địa danh ấy; Cụ thể như Pleiku đi dễ khó về/ Trai đi có vợ gái về có con. Ví von như vậy e chưa thuyết phục, vì chưa nói lên được cái quyến rũ đầy ma lực và huyền bí của Pleiku.

Sự thực, Pleiku là cao nguyên phía Tây Bắc của Việt Nam ở độ cao từ 600 đến 800 mét, Bắc giáp Kontum, Nam giáp Daklak, Tây giáp Campuchea, Đông giáp ba tỉnh Quãng Ngãi, Bình Định, và Phú Yên. Khí hậu nhiệt đới, chia hai mùa, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa nắng từ tháng 12 đến tháng 4. Nhiệt độ trung bình 21 đến 25 độ C, dân số 237.000 người (2008) bao gồm 28 dân tộc, trong đó người kinh chiếm 87%, các dân tộc khác như Gia Rai, Ba Na… chiếm 13%.

Nhiều nhà quân sự vẫn cho Pleiku là “mái nhà” của Đông Dương. Pleiku lại có ưu thế về thổ nhưỡng và thời tiết, thuận lợi cho phát triển các loại cây công nghiệp như cao su, cà phê, hồ tiêu, cây lâm sản đa dạng.

Chính thiên nhiên, sông núi, đất đai và khí hậu…, đã nuôi dưỡng nên con người Pleiku có một tính cách riêng, tính cách của Pleiku: hồn nhiên, đôn hậu, thánh thiện, và bình dị.

Rất nôn nóng đợi ngày về với núi
Nghe vi vu tiếng gió khe rừng
Mọi thứ quanh ta đều thánh thiện
Và thánh thần bỗng hết thiêng liêng

(Dứt Cơn Mơ Ta Về Với Núi – Cao Thoại Châu)

Một đóa dã quỳ màu vàng chập chờn trên núi hay ngả nghiêng trên con lộ quê; một chút lửa hồng bếp cũ trong nhà sàn ngoài nương rẫy, gợi nhớ cái lạnh thiên cổ của Phố Núi, có khi cũng là một thôi thúc quay về:

Nghe lòng mình cùng phố núi chao nghiêng
Nai gõ móng trên thềm đá cũ
Nghe cả mừng vui buồn tủi
Dã quỳ ơi, anh đã quay về…

(Dã Quỳ Rực Rỡ Dấu Chân Thơm – Cao Thoại Châu)

 

Phố núi kia ơi, một đời phố lạnh
Lạnh hoa vàng, núi đỏ, thác đèo cao
Lạnh hàng cây, tửu quán, lạnh gần nhau
Lạnh thiên cổ, lạnh vào tim máu cạn

(Hoa Quỳ Vàng Lạnh Pleiku – Nguyễn Bắc Sơn).

Sương mù, buốt lạnh và nắng bụi mưa sình cũng là những nét tiêu biểu khắc nghiệt của Pleiku mà khi đi xa, người dân Phố Núi thường hay nhớ về:

Bây giờ ta ở Pleiku
Thấy xanh đó núi thấy mù nầy sương
Núi xanh còn ngỡ phố phường
Mù sương ngan ngát dễ thường dễ khuây


(Ở Pleiku
– Võ Ý)

Cũng có khi người Pleiku nhớ mông lung giọt cà phê Dinh Điền một sáng chủ nhật mưa bay, nhớ cái cay hít hà xé miệng của tô bún bò nhà xác, nhớ món hủ tiếu khô đậm đà chơn chất, nhớ những hột bắp dẻo mà thơm của nương rẫy miền cao, nhưng trong các đặc sản của Phố Núi, quý bà nội trợ làm sao mà quên được món măng le Pleiku đã đi vào ca dao:

Ai về nhắn với nẫu nguồn
Măng le gởi xuống, cá chuồn gởi lên

Một điều hiển nhiên là khi yêu ai, ta yêu cả đường đi lối về (1) của người ấy. Vì người yêu của tôi ở Pleiku, nên tôi yêu Phố Núi, yêu sân trường của nàng dù mưa sình lầy lội.

Từ xa xưa, Pleiku đã đi vào văn học sử. Rất nhiều bài thơ bài văn nói về Pleiku, trước cũng như sau 1975. Ngoài Phạm Duy với ca khúc để đời “Còn Chút Gì Để Nhớ”, cũng còn rất nhiều nhạc sĩ diễn đạt những rung cảm của mình về Pleiku như Nhật Ngân (Lên Núi Tỏ Tình), Phan Ni Tấn (Đứa Con Mê Núi, Pleiku Em Ở Núi Rừng), Hoàng Khai Nhan (Phố Xưa), Trần Duy Đức (Khúc Mưa Sầu), Đăng Phương (Cao Nguyên Tình Khúc), Nguyễn Nam Thư (Về Rừng Núi), Nguyễn Đức Tri Tâm (Áo Trắng Ngày Xưa), Dương Thượng Trúc (Pleiku, Thiên Thu Nỗi Nhớ), Tô Quốc Thắng (Nhớ Pleiku), v.v…

“Em Pleiku má đỏ môi hồng”
đã trở thành một gắn bó hiễn nhiên với các cô gái sinh sống tại phố núi mù sương, dù kinh dù thượng.

Biển Hồ và núi Hàm Rồng là những thắng cảnh tiêu biểu của Pleiku.

Biển Hồ mênh mông không đáy, xanh thẫm một màu. Trong chúng ta, hẳn có lúc muốn “trầm mình” vào đôi mắt biển hồ xanh thẫm của giai nhân, xem ra còn thi vị hơn là say xỉn rồi nhảy xuống hồ để mò… trăng!

Không phải chỉ có tình yêu đôi lứa mới thôi thúc người Pleiku tìm về với núi. Nhiều người quay quắt nhớ về chiến trường xưa chỉ vì tình đồng đội sống chết bên nhau một thời.

Một sự thật hiển nhiên, tình yêu và nỗi chết ở Phố Núi là một gắn bó hữu cơ.

Tình yêu và nỗi chết đã biến thành ma lực, thành khát vọng tìm về.

“Mai xa lắc trên đồn biên giới”, là người Pleiku đã mang mệnh biệt ly để ngày đêm mòn mỏi. Biết bao chinh nhân đã hy sinh mạng sống để bảo vệ yên bình cho Pleiku và biết bao xương máu của đồng đội tôi đã góp phần tô điểm rừng núi Tây nguyên giữ mãi một màu xanh huyền bí.

Pleiku biến thành máu thịt của mỗi cư dân Phố Núi tự bao giờ không biết.

Chiến trận ngày càng một khốc liệt, không chỉ người lính ra trận mà toàn dân, không chỉ núi rừng hứng chịu đạn bom mà bản làng cùng chia sẻ. Tin vui ở Pleiku thì ít, tin dữ không dám nghe. Một quả pháo rơi là thấp thỏm lo âu cầu khẩn…

Vì là chốn lửa đạn, ngày đêm phải đối đầu với hiểm nguy và bất trắc, nên dễ nẩy sinh tình đồng đội, qua đó, địa danh Pleiku gắn liền với kỷ niệm sinh tử trong tâm khảm những người lính chiến Cộng Hòa.

 

đường Trịnh Minh Thế, Pleiku

Pleiku, địa danh đi đày, trở thành niềm kiêu hãnh cho những chinh nhân trấn đóng ở đó. Cũng có thể nói, chiến trường Tây Nguyên khốc liệt và thân phận người lính, là một thể. Và đó là lý do để người lính Cộng Hòa năm xưa lúc nào cũng nhớ về chiến trường xưa, nhớ về thanh xuân gian truân mà hào hùng của mình:

Chào anh buổi sáng Tây Nguyên
Tay ngang tầm mắt đầu nghiêng cúi chào
Quốc kỳ phủ xuống công lao
Có bi đông nước dựa vào xác thân
Nghĩ anh đi cũng an phần
Xum xuê có trẻ bâng khuâng đứng ngồi
Chị thì rũ tóc máy môi
Chào anh buổi sáng mắt tôi nhạt nhòa.

(Chào Sáng – Võ Ý, Pleiku 1972)

 

25 Mar 1975, Son Hoa, South Vietnam — Son Hoa. South Vietnam: Tail end of convoy of tears from abandoned central highlands resumes rolling along across pontoon bridge constructed over Song Ba River, 210 miles northeast of Saigon, March 25, 1975. Government helicopters continued their shuttle to Son Hoa to evacuate trapped refugees to coastal havens in the east following Communist attacks cutting the exit route. — Image by © Bettmann/CORBIS

 

Kể từ khi có lệnh rút Quân Đoàn II về duyên hải qua Liên Tỉnh Lộ 7B, khởi sự đêm 16 tháng 3 năm 1975 đến nay (2013) là đã 38 năm tròn. Rất nhiều đồng bào và đồng đội từng chứng kiến cảnh kinh hoàng qua cuộc di tản chập chùng thảm khốc và uất nghẹn này. Có thể do thôi thúc của tâm linh, Hội Ái Hữu Phố Núi Pleiku ra đời năm 2010 và đã cử hành Lễ Tưởng Niệm Liên Tỉnh Lộ 7B lần đầu tiên vào ngày 20 tháng 3 năm 2015 (Thanh Minh trong tiết tháng Ba) tại tượng đài Chiến Sĩ Việt Mỹ Westminster, CA. Đây là thuận duyên để người Pleiku vừa tưởng niệm đồng đội đồng bào vừa “nhìn nhau bỗng thấy ra sông núi” (2) để hun đúc lại tình nước tình nhà.

Ba mươi tám năm qua, hình ảnh Liên Tỉnh Lộ 7B chưa phai mờ trong ký ức người di tản Thy Lan Thảo, thuộc Tiểu Đoàn 20 Chiến Tranh Chính Trị Pleiku:

Giã từ Cao Nguyên, giã từ Phú Bổn
Đây sông Ba sóng nước hãi hùng
Xác máu lập lờ bên thép sung
Tàn quân tan tác lệ rưng rưng…

Bao năm rồi – Tỉnh lộ 7B
Sắt son ai giữ được câu thề
Bao giờ rửa được hờn sông núi
Hay vẫn chìm quên trong lãng mê!

(Bao Năm Rồi– Tỉnh Lộ 7B – Thy Lan Thảo)

Tỉnh Lộ 7B đã đi vào chiến sử.

Tôi muốn vẫy vùng khỏi cơn lãng mê để được ngủ êm đềm nhưng rất say với núi rừng. Trong giấc ngủ êm đềm nhưng rất say đó, trí tôi vẫn mơ màng hình ảnh những chinh nhân đi bảo vệ sự sống, từng xông pha khắp các chiến trường Tây Nguyên khốc liệt năm nào, đã vùi thân trong lòng đất mẹ hay đang nấu nung ý chí ở góc núi khe rừng đó đây….

Và tôi nghĩ, đó là Ma Lực Của Phố Núi Pleiku!

Corona, CA, 03/2013
VÕ Ý

(1) Ca dao: Yêu ai yêu cả đường đi.

(2) Tựa một bài thơ của Du Tử Lê.

* Trích trong Tuyển Tập Bắc Đẩu Võ Ý, xuất bản tháng Giêng

 

It’s empty! Totally empty …

CHICO, Butte CountyThe number of people missing in the Camp Fire disaster jumped to 631 Thursday and officials said the death toll has risen to 63.

Butte County Sheriff Kory Honea delivered the grim news at a Thursday evening press conference, explaining that the list of missing skyrocketed after authorities did a comprehensive review of 911 calls and missing-persons reports.
(SFGate News, Nov. 14, 2018)

Tin tức về đám cháy rừng có tên Camp Fire tại miền bắc California tiếp tục nóng hơn theo con số nạn nhân tử vong và mất tích ngày càng tăng cao.

Vào tối thứ Năm 15 tháng 11, Sở cảnh sát Butte County cho biết đã có 63 trường hợp xác nhận thiệt mạng, 633 người mất tích, khiến Camp Fire trở thành trận hỏa hoạn của thiên nhiên gây chết người nhiều nhất Hoa Kỳ trong vòng 1 thế kỷ qua.

Bên cạnh nhân mạng, ngọn lửa đã lan rộng 140,000 acre, thiêu hủy 11,862 kiến trúc các loại, và chỉ 40%. được khống chế .

Tại miền nam California, đám cháy Woolsey Fire đang hoành hành cũng đạt kỷ lục là một trong những đám cháy lớn nhất trong lịch sử LA County trong hơn 100 năm qua. Vụ cháy đã thiêu hủy 504 ngôi nhà, gây hư hại 96 ngôi nhà khác, và đe dọa 57,000 ngôi nhà.

Ngoài ra, cũng sáng thứ Năm, một đám cháy mới bùng lên tại vùng Santa Paula thuộc Ventura County . Đám cháy Briggs Fire rộng khoảng 75 đến 100 acre, nằm ở phía nam xa lộ 126.

Những đám cháy khiến tôi nhớ lại khuôn mặt ngơ ngẩn của một ông cụ người Mỹ và câu nói thảng thốt của ông: “It’s empty! Totally empty …” trong trận hỏa hoạn do bà mẹ thiên nhiên gây ra tại thị trấn Lytle Creek, California 15 năm trước.

  • trầm hương (UT)

 

Lại thêm một buổi sáng ở Little Saigon. không phải là mù sương như những sớm mai thành phố lãng đãng sau màn sương đục huyền ảo khi mùa Thu khởi đầu mà là mù tro và hơi khói từ Rancho Cucamonga thuộc hạt San Bernadino tràn đến.

Sáng qua, 25 tháng 10, cùng với cái lạnh se se của Nam Cali, tôi ngó những mảnh trăng trắng bay li ti trong không gian. Ô hay, Cali cũng có tuyết sáng nay ư? Lòng bỗng dưng chao đi với những mảnh tuyết từ phố Núi vụt ào đến. Những con đường “quê tôi” đã úa lá chưa nhỉ? Hàng cây mapple trên lối dẫn đến nhà có đang thắp nến lên hai hàng? Hẳn rằng nơi ấy đang lạnh lắm, lạnh như hồn tôi cũng đang đẫm cái lạnh, nỗi cô đơn ùa đến buổi sáng hôm nay. Thì ra đâu cũng có … tuyết .

Anh Thanh- người đưa thư của khu phố chúng tôi- tươi cười bước vào tiệm.
-Chào cô Hương, cô khoẻ không ? Gớm, hôm nay tro nhiều quá cô ạ! Thở chẳng ra!
Ngày nào cũng thế, hình ảnh anh Thanh với chiếc mũ rơm có gắn cái nơ trông như mũ đàn bà và nụ cười tươi tắn, những câu hỏi thăm nồng ấm mang theo đôi tin tức cập nhật trong ngày, luôn làm tươi lên một ngày làm việc của tôi nơi đây. Đã có lần, một khách hàng láu lỉnh ngó cái mũ của anh Thanh:
– Này, cái mũ này là đồng phục của nhân viên bưu điện đấy à!
Tôi nén cười. Anh Thanh thật thà:
– Dạ không, tôi đội cho mát đấy mà! Nghề chúng tôi cứ lội nắng cả ngày, không có nó thì đến chết.
Người khách chưa tha:
– Anh mua ở đâu thế ? Trông … xinh đấy . Kiếm cho tôi một cái nhá!
Lần này thì tôi bật cười thành tiếng. Anh Thanh vẫn hồn nhiên:
– Ối dào, chả biết mua ở đâu. Con gái tôi nó vứt đấy. Tôi tiếc, lấy đội đi làm. Nhiều người thích lắm nhá (Anh cười nheo cả mắt). Đã mấy người nhờ tôi mua dùm rồi.
Tôi quay sang người khách, nháy nhó ra hiệu ông đừng đùa dai nữa. Người khách phì cười:
– Vâng, cảm ơn anh. Đưa thư vui nhé anh!

Tin tức về những đám bụi tro (chứ không phải tuyết) khiến tôi chưng hửng:
– Cháy ở đâu vậy anh Thanh?
– Cô Hương không biết à? Ở San Bernadino đấy. Lạy Chúa, cả trăm người không còn nhà để ở. Cô không thấy trời hôm nay lạ lùng sao? Ban ngày mà i như nhật thực.

Anh nói tôi mới nhớ. Sáng sớm, mải miết chạy đi lấy hoa, bầu trời đùng đục sương trắng, mênh mang cái lạnh ngoài trời và trong lòng. Về tiệm, cắm cúi bên giỏ hoa tropical to đùng người ta đặt, tôi có biết trời đất ra sao, ngoài những mảnh “tuyết” bất chợt nhìn thấy. Có một lúc, ngó mông ra bên ngoài, chao ơi, nắng hôm nay sao đẹp lạ! Phơn phớt một mầu hồng đào tuyệt vời. Nắng như nắng quái chiều hôm. Sao thế nhỉ ? Chao ơi, giá chi được lái xe ra biển. Chao ơi, đất trời Cali…
Bây giờ thì tôi hiểu rồi.

Trưa, anh Quân nói với tôi:
– Xe Hương bẩn quá! Anh em mình đóng cửa tiệm đi ăn rồi anh lái xe Hương đi rửa luôn.
Tôi cãi:
– Xe em sạch lắm mà. Chả cần đâu .
Anh bảo, Ra mà xem.
Tro, tro phủ 1 lớp dầy nhem nhuốc cùng khắp. Mầu sơn trắng càng nổi bật hơn những hột tro xám trắng li ti. Tuyết của tôi sáng qua đó.


“It’s empty! Totally empty …”

Người đàn ông Mỹ già đứng bên cạnh bà vợ, nét mặt ngẩn ngơ trả lời phóng viên đài truyền hình. Trái tim tôi buốt lên đau nhói. Chưa bao giờ tôi thông cảm và hiểu được cái mất mát tận cùng của câu nói “Empty , totally empty” mà ông dùng như lúc này. Ông đã không còn đủ thời gian để làm lại bất cứ một điều gì. Nhất là KỶ NIỆM. Ngọn lửa đỏ le lưỡi liếm hừng hực phía xa. Mẹ tôi kể, Cháy nhà sợ lắm con ạ. Lửa i hệt cái lưỡi dài, liếm một cái là mất sạch. Đó là ngọn lửa in hằn trong ký ức bà của ngày Bình Xuyên đốt trụi lủi căn nhà đầu tiên ông bà vừa gầy dựng nên thuở chân ướt chân ráo từ Bắc vào Nam.
Tôi tưởng tượng chiếc áo cưới trinh nguyên nằm trang trọng trong một góc nào đó của cái closet. Những bức ảnh đen trắng ố vàng, thời cha ông cụ kỵ. Rồi những hình ảnh thuở hai người cười tươi ngày khăn áo buộc đời nhau. Hình con cái của 2 ông bà nữa! Làm sao kéo thời gian lùi lại để có được những bức ảnh ngày xưa? Làm sao để ông bà đủ sức kéo cày tạo dựng lại một ngôi nhà khác? Sự khánh tận đến mức tận cùng, chẳng phải sao, từ quá khứ đến hiện tại!

Lửa vẫn còn đang cháy. Đã 200 căn nhà góp thêm bụi cho những thành phố lân cận. Rồi sẽ đến những căn nhà nào khác nữa như tâm trạng hoảng loạn của cư dân tại thị trấn Lytle Creek mấy ngày rồi.

Mùi khét tràn ngập Little Saigon sáng nay. Gió Santa Ana ơi đừng thổi nữa! Tro bụi luồn qua khe cửa kính xe mở ngỏ qua đêm, phủ đầy nệm xe tôi. Mặt trời đỏ rực, nổi lên một quầng tròn sau làn mây đục khói nặng nề.

– Good morning Artist’s Flowers!
Tiếng chuông điện thoại, tôi trả lời như cái máy. Lẫn trong tiếng xe cộ, giọng Quỳnh Hương cấp bách:
– Mỹ Ngọc đã phone cho TH chưa?
– Chưa. Chuyện gì vậy?
– Cháy ở phía nhà Mỹ Ngọc. Mỹ Ngọc ôm ít đồ, chạy ra khỏi nhà rồi!
– Cái gì, nhà MN ở mãi San Diego mà! Làm sao lửa tới?
– Đám cháy này khác!

Có thật không? Mùi khét vẫn đang bao trùm cả thành phố. Hôm nay là ngày của Chúa. Chúa Nhật 26 tháng 10, 2003. Và bây giờ là 11:32 phút.

Trầm Hương

tháng 9, tiếng trống….

trầm hương (UT)

Anh B nói với tôi, “Tôi tính đăng bài thơ của Trần Mộng Tú trên giai phẩm Xuân mà sợ bà con phê bình tờ báo không đàng hoàng”.

Đó là những ngày cuối năm 1994. Anh B hơn tôi nhiều tuổi nhưng luôn giữ kẽ trong cách xưng hô. Anh là một người làm báo rất cẩn trọng. Cùng trong một thành phố nhưng mỗi năm, chúng tôi gặp nhau đôi khi một lần. Đôi năm chẳng có lần nào. Nhưng không có nghĩa là tôi ít quý trọng anh. Trái lại là khác.

Tiểu bang chúng tôi ở có truyền thống đạo giáo nghiêm nhặt. Cái đạo không cho phép tín đồ được uống rượu bia, cà-phê, hút thuốc. Ngay cả nước ngọt  có … mầu (như Coke, Pepsi hay Dr Pepper) cũng không. Nhưng bù lại, người đàn ông được quyền có nhiều “phòng”.  Điều đáng buồn cho những người đàn ông đó là bây giờ, luật pháp nước Mỹ đã ngăn cản cái quyền được nhiều vợ (để phát triển tín đồ) và người phụ nữ cũng không muốn vì đạo mà phải chia sẻ tấm tình chung. Chỉ còn rất ít người dân theo giáo phái Đa Thê (Polygamy) là còn ráng giữ cái sức mạnh của người đàn ông trong gia đình như thế .

Cái chuyện anh B sợ bà con phê bình tờ báo không đàng hoàng- dĩ nhiên- không phải là anh sợ những người dân bản xứ đạo đức. Chỉ là số người tỵ nạn Việt Nam tuy nhỏ nhưng cũng dễ gây thành chuyện xầm xì từ đầu làng đến cuối ngõ đấy thôi.

Tôi nói, Em chưa đọc  thơ Trần Mộng Tú bao giờ. Anh cho em xem thử.

Và tôi đã yêu thơ Trần Mộng Tú từ đó.

Bài thơ có nhiều lần người nữ “mở áo cho Xuân coi lồng ngực”. Xuân không phải tên của một chàng thanh niên nào cả. Xuân là mùa Xuân. Là lồng ngực cô mang trái tim thắm đỏ những nhung nhớ thương yêu của quê cũ, của chờ đợi; của thủy chung tìm kiếm; của ngậm ngùi xót xa cho phận mình.

…  Đã lâu quá anh không về gõ cửa
lồng ngực em. Trái đỏ vẫn còn nguyên
Ôi! Có phải mùa Xuân đang nhóm lửa
Tay lạnh thế này, ai sưởi cho em

(Gọi anh mùa Xuân- Trần Mộng Tú)

Tôi yêu cái nồng nàn lãng mạn của chị Trần Mộng Tú. Mở bất cứ tờ tạp chí hay sách báo Việt ngữ nào có trong tay, tôi cũng đều tìm xem có thơ Trần Mộng Tú hay không. Chị làm mới ngôn ngữ mà không cần làm dáng. Đam mê của chị nóng bỏng nhưng lại dịu dàng biết bao. Tháng 9, mùa tựu trường của cả nước Mỹ, tôi không còn nhớ đến Thanh Tịnh với đoạn văn vượt không gian và thời gian, “Hằng năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những áng mây bàng bạc….” mà trong tôi là bùi ngùi những câu thơ của Trần Mộng Tú:

Tôi đứng trong sương nhìn chuyến bus
Sáng nay vừa đậu ở bên đường
Những em áo đẹp tay cầm sách
Tóc tung trong gió cùng đến trường

Chốc nữa khi ngồi trong lớp học
Em viết gì giữa trang vở mới tinh
Tôi vạch một đường trên trang giấy
Nối tuổi già tôi với bình minh

Tôi vạch một đường trên trang giấy
Kéo thời gian lại với tuổi tôi
Kéo trường kéo lớp thời xưa cũ
Kéo cả quê hương ở cuối trời

Chốc nữa khi ngồi trong lớp học
Thầy vẽ tương lai trên bảng đen
Em có để hồn ngoài cửa lớp
Bụi phấn bay theo mỗi cánh chim

Tôi vạch một đường trên trang giấy
Mùa thu xưa bỗng lạnh quanh đây
Dĩ vãng khô như bình mực cạn
Tiếng trống rung trong bộ ngực gầy

(Khai trường- Trần Mộng Tú)

 

Tháng Chín, cùng với những cô cậu học trò nhỏ xinh xắn trông thơm ngon như viên kẹo mới, tung tăng trong những bộ quần áo đẹp đẽ đến trường, còn là hình ảnh của Bob, người dẫn đường (Crossing guard) của Horizon Elementary School cạnh nhà chúng tôi nữa.

Dạo ấy, Bob độ ngoài 60. Trông ông tráng kiện lắm với thân hình to cao. Khuôn mặt lúc nào cũng rạng rỡ nụ cười trẻ thơ không thua gì bầy học trò nhỏ. Ngày hai bận, tôi dẫn con đi bộ tới trường. Bao giờ ông cũng có những câu chào hay đùa vui cùng mẹ con tôi. Dần dà, thân hơn, lân sang những câu hỏi thăm đời sống riêng nhau. Một lần, ông than, nhà cửa ông dơ bẩn quá mà thiếu người lau chùi dọn dẹp.  Ông hỏi tôi có biết ai thì giới thiệu dùm. Ông chỉ có thể trả được 7$/ giờ. Không phải làm mỗi ngày nhưng mỗi 2 tuần một lần. Tôi đang vô công rỗi nghề, thấy tội, nhiệt tình: “Tôi có thể dọn cho ông được”. Ông hớn hở: “Thật nhé!” Ông hí hoáy viết địa chỉ. Nhà ông chỉ cách nhà chúng tôi con lộ chính. Cũng tiện.

Chồng tôi kêu lên: “Sao em thật thà cả tin quá thế! Nhỡ em qua, ổng nổi hứng…. bậy bạ thì sao?”. Tôi yếu ớt: “Tội ổng. Ổng già rồi. Xem ra cũng đứng đắn. Anh đừng lo”. Chồng tôi biết tính vợ, thở dài: “Thôi thì em giúp cho ổng một lần này thôi. Anh không muốn em làm việc kiểu vậy. Nói với ổng, em không rảnh. Nhớ chưa! Có đi thì dẫn cả …. 2 đứa con phòng hờ”. Tôi bật cười. Một đứa 6 tuổi, con gái. Một đứa 4 tuổi, con trai. Dù sao anh cũng có lý vì ít ra, khi cần, ba cái miệng cùng hét cũng to hơn một cái.

Cái công việc làm-chỉ-một-lần đó đã diễn ra suông sẻ. Kỷ niệm mà con gái tôi bây giờ còn nhớ là Bob dặn nó phải đi vớ trong nhà ông cho khỏi hôi chân. Và cái giường waterbed của ông thì là cả một kỳ quan, i như cái thuyền vĩ đại để chị em nó ngồi lái. Ông chỉ hơi buồn khi nghe tôi nói sẽ không còn rảnh nữa. Điều đáng nói là sau đó, ông tâm sự với tôi là ông thích phụ nữ Việt Nam. “Bà có thể kiếm cho tôi một lady Việt Nam để tôi làm bạn không?”

Vợ ông chết đã 5, 6 năm gì đó. Ông già ăn lương hưu. Vui vẻ. Có nhà cửa khang trang. Dám thêm cả khối tiền tiết kiệm trong nhà băng lắm à. Tôi làm con tính nhẩm kiểu mấy bà nội trợ, hân hoan nghĩ đến cô bạn thân xấp xỉ 40, độc thân chánh hiệu vừa từ Việt Nam qua, đang tạm làm housekeeper tại khách sạn Little America.

Tôi là một người bán hàng dở ẹc. Món hàng đưa ra, chùi bóng những ưu điểm (To cao. Vui vẻ. Đàng hoàng. Có nhà cửa. Không phải lo nuôi …. chồng); dấu bớt khuyết điểm (Già. Xấu đẹp tùy người đối diện), bạn tôi nghe với khuôn mặt càng lúc càng khó coi. Cuối cùng, bạn tôi buông thõng: “Bộ H tưởng Q chỉ lấy được Mỹ già hay sao? Nghèo thì nghèo, chỉ nghĩ nắm cái tay nhăn nheo, Q đã ớn. Cám ơn”.

Bạn cắt cái rụp tấm lòng thương người của tôi. Quả thật, tôi đã chỉ nghĩ đến chuyện bạn tôi cần một “người bạn” để có thể dựa đỡ mà quên đi nhiều điều. Tôi vớt: “Thế thì Q có bà bạn đồng nghiệp nào, giới thiệu dùm ổng”. Bạn tôi chừng như lấy lại được danh dự của mình, rộng rãi: “Ừ. Để Q hỏi bà L thử coi. Cái bà này cũng già rồi, qua theo diện có con lai. Gần 50 mà ngựa lắm. Hồi xưa bả là vũ nữ mà”. Tôi nghe lý lịch hơi rét. Q bảo, “Thây kệ. Thì giới thiệu họ làm bạn. Được thì được. Không được thì dang. Có ai còn trẻ trung nữa đâu!”.

Tôi kể với Bob về người bạn gái tương lai của ông. Bob sáng mắt: “Bả tên gì? Để tôi đến Little America tìm bả trước”.

Ông già thế mà nhiều lửa thật. Ông khoe với tôi 2 hôm sau: “Tôi gặp L rồi. Bả dễ thương lắm. Tôi hẹn sẽ đi chơi với bả someday”.

Tôi thuật lại với Q.

Q cười bò, “Bà L xấu hoắc. Cao, gầy tong teo. Trông khô như con mắm. Da men mét mà ổng khen được cũng hay.”

Chuyện tình sôi bỏng được hơn một tháng thì tịnh. Bà L kể với bạn tôi, lần hẹn đầu tiên, ông già rủ bả đi chơi bowling. Bả lịch sự ( mà cũng không đủ chữ để nói dài hơn Yes hay No) đi theo ngó. Sau đó, về nhà…. bình an.

Lần thứ hai, cũng bowling.

Lần thứ ba, bả không chịu, đòi đi Wendover đánh bài. Sau 3 tiếng ở sòng bài, Bob rủ bả về nhà Bob. Ông già bị bà L chê yếu xìu. “Trông to con mạnh khoẻ mà chẳng nên cơm cháo gì”.

Thế là xong.

Tôi không dám hỏi Bob dạo này ông ra sao. Chỉ thấy ông vẫn cười hồn nhiên: “Tôi thích bowling lắm. Tuần phải đi vài tối”. Cũng được. Tôi đâu trách nhiệm gì trong mối tình về chiều của họ. Những cái con quay (pin) ngã rạp xuống chịu thua trước quả banh nặng chính xác ông lia tới. Chúng nào dám chê ông to con mạnh khoẻ mà chẳng nên cơm cháo gì như người đàn bà Á Đông nọ.

.

Những đứa con tôi lớn dần. Chúng không cần phải nắm tay mẹ đến trường. Từ nhà, qua khung cửa sổ, tôi có thể nhìn thấy chúng vừa đi vừa lăng quăng đá những vật lỉnh kỉnh trên đường I hệt như tôi thuở nhỏ. Ông Bob biến mất từ lúc nào tôi không rõ. Ông dọn nhà sang thành phố khác hay ông đã chết? Các con tôi cũng không rõ.

Nhưng mỗi năm, vào mùa tựu trường, ngang qua những ngã tư gần trường tiểu học, sao tôi vẫn nhớ hoài ông Bob. Và hồn thì ngùi ngùi âm vang của Dĩ vãng khô như bình mực cạn. Tiếng trống rung trong bộ ngực gầy.

trầm hương (UT)

 

di chúc của tôi

Nguyn Tài Ngc

http://www.saigonocean.com/trangNguyenTaiNgoc/vanNTN.htm

Hai tuần trước anh vợ tôi từ trần. Đây là đám tang thứ hai vợ chồng tôi dự trong vòng một tháng. Ở tuổi gần đất xa trời của tôi, chuẩn bị cho ngày buồn bã đó là việc nên làm vì thứ nhất, chuyện trọng đại đã sát gần đến đít, và thứ hai, nếu tôi không viết sẵn vài lời trăn trối thì vợ tôi sẽ ngỡ ngàng không biết quyết định ra sao, nên tái giá với chàng Mễ làm vườn hay ông Việt Nam độc giả của tôi có vợ lìa trần mười năm về trước nhưng lại thầm kín ái mộ nàng? mời đọc tiếp

lần đầu nghe tiếng hát Thái Hiền

Ca sĩ Thái Hiền. (Hình: Facebook Nina Hòa Bình)

 

WESTMINSTER, California (NV) – Nhiều người yêu nhạc có thể ngạc nhiên khi nghe tôi nói rằng chiều Chủ Nhật, 6 Tháng Năm vừa qua, trong chương trình “Cho Tôi Lại Ngày Nào” tại hội trường Việt Báo, Westminster, là lần đầu tiên tôi nghe Thái Hiền hát. Và cũng lần đầu tiên tôi nhìn thấy ca sĩ chính của chương trình có phong thái của một cô giáo hơn là một người đứng dưới ánh đèn màu.

Dĩ nhiên, đây là Thái Hiền, con gái của cố nhạc sĩ Phạm Duy, chứ chẳng phải một Thái Hiền nào khác. Thái Hiền của một thời “Bé Ca,” “Nữ Ca” với “Chú Bé Bắt Được Con Công,” “Bé Bắt Dế,” “Ông Trăng Xuống Chơi Cây Cau,” “Đốt Lá Trên Sân,”… với “Tuổi 13,” “Tuổi Mộng Mơ,” “Tuổi Biết Buồn,” “Tuổi Vu Vơ,” “Tuổi Bâng Khuâng,”…

Có điều tôi không thuộc thế hệ học trò đó để có thể nhớ tiếng hát Thái Hiền làm mình xao xuyến, ngẩn ngơ ra sao. Bởi, ngày Thái Hiền hồn nhiên mê hoặc những cô cậu tuổi ô mai thì tôi chưa kịp chào đời. Đến khi tôi vừa lớn thì Sài Gòn đã không có nhạc Phạm Duy, không còn tiếng hát Thái Hiền.

Thế nên, lần đầu tiên tôi nghe Thái Hiền, cũng là lần chị trở lại sân khấu sau gần cả chục năm vắng bóng (tôi nghe người ta nói vậy) với một lỗ tai sạch trơn cùng một trái tim không hoài niệm.

Thái Hiền trở lại sân khấu sau hơn chục năm vắng bóng. (Hình: Facebook Nina Hòa Bình)

Nhìn chị bước ra sân khấu, tôi ngạc nhiên. Thật sự ngạc nhiên. Hình như đó không phải là một ca sĩ tên tuổi đang đứng trước khán giả với những phục trang lộng lẫy, với những phụ kiện lỉnh kỉnh theo cùng. Mà Thái Hiền, như một cô giáo. Giản dị trong phục trang. Đơn giản trong trang điểm. Và, một phong thái điềm tĩnh đến lạ. Cùng cặp kính lão và mái tóc ngắn, thật ngắn, bạc nhiều hơn nửa.

Và chị hát. “Làm Sao Mà Quên Được.” “Tuổi 13.” “Tóc Mây.” “Tôi Đang Mơ Giấc Mộng Dài.” Bốn bài liền nhau, không nghỉ, và cũng không tìm cách nói với khán giả điều gì đó, để tìm kiếm sự đồng cảm. Chị chỉ hát. Hát như lần đầu được hát. Say sưa. Không vướng bận. Chẳng làm dáng. Với chất giọng trong vắt. Nhẹ như ru.

Nghe chị hát, tôi không có cảm giác mình bị trì níu, vẫy vùng trong hố thẳm của những xúc cảm. Mà chỉ thấy một điều gì đó thanh thoát đến lạ. Mình cứ như bay lên. Nhẹ bổng.

“Làm sao mà quên được/ Người em gái năm xưa/ Sao quên được đôi mắt/ Như ngôi sao trên trời.”

“Trời hôm nay mưa nhiều hay rất nắng/ Mưa tôi trả về bong bóng vỡ đầy tay/ Trời nắng ngạt ngào tôi ở lại đây/ Như một buổi hiên nhà nàng dịu mát.”

“Như cánh hoa đêm đong đưa nụ tình/ Gọi mời cơn gió hôn lá trên cao/ Như cánh chim đêm bơ vơ một mình/ Trời bao nhiêu gió tóc bao nhiêu buồn.”

“Tôi đang mơ giấc mộng dài/ Đừng lay tôi nhé, cuộc đời chung quanh/ Tôi đang nhìn thấy màu xanh/ Ở trên cây cành trôi xuống thân mình/ Tôi đang nhìn thấy màu hồng/ Ở khắp nẻo đường nhẹ thấm vào hồn.”

Từng lời hát cất lên. Những giai điệu ríu rít khán phòng. Mà, Thái Hiền dường như không hát vì sự hiện diện của khán giả. Chị hát cho một cõi nào đó, của thánh đường, của những gì thật trắng, thật trong. Và khán giả, tùy theo những trải nghiệm của mình, mà mơn man trong tiếng hát đó, trong “cõi của mình.”

Có người nói, “người ta lắng nghe Thái Hiền vì cô không hẳn đang trình diễn mà là đang kể chuyện, kể giản đơn nhưng tinh tế, không kiểu cách mà là những thấm đẫm chân thành. Giọng Thái Hiền là một giọng lạnh, (dường như) là một xa cách với những gì xung quanh – khi cô hát – nhưng lại ấm nồng như thỏi than dễ dàng hồng lên ánh lửa của yêu thương, của miên viễn ngọt ngào ký ức trong lòng những tâm hồn hoang vắng.”

Cô Gia My, một khán giả của đêm, nhận xét “Thái Hiền hôm nay nhìn khác với Thái Hiền của ‘Tuổi 13.’ Cô ấy trông chững chạc hơn nhưng giọng hát thì quá gợi cảm.” Còn khán giả Kim Trương thì cho rằng, “Nghe giọng Thái Hiền mình cứ nhớ lại thời ấy, ký ức quay lại thưở xưa. Giọng Thái Hiền vẫn hay như ngày nào.”

Tôi thì nghe Thái Hiền như nghe một giọng ca mới, tinh khiết. Giọng Thái Hiền thanh thoát như dáng dấp của chị, nhưng đối nghịch hoàn toàn với mái tóc bạc sương. “Thái Hiền tuy 60 tuổi, tóc đã bạc nhưng tâm hồn vẫn còn trẻ thơ như tuổi 13!” Chị trả lời tôi một cách giản dị như thế khi nghe hỏi “Điều gì giúp chị đạt được sự hồn nhiên, dễ thương, không có gì gượng ép như một số ca sĩ khác khi hát lại các ca khúc ‘Bé Ca?’”

“Được biết khi đang là một ca sĩ được ái mộ thì chị đột nhiên rời sân khấu cả một thời gian dài. Chị có thể cho biết lý do vì sau chị rời sân khấu không? Và giờ đây, điều gì khiến chị trở lại với khán giả hâm mộ?” Tôi tò mò hỏi.

Chị tâm sự, “Có một lúc trong cuộc đời mình bị những mất mát, rơi vào những thất vọng. Những điều đó làm cho Thái Hiền bị mất thăng bằng, mất tinh thần nên không còn muốn hát nữa. Nhưng rồi thời gian cũng nguôi ngoai. Sau này Thái Hiền suy nghĩ đến bố nhiều lắm và tự an ủi rằng chắc bố cũng muốn Thái Hiền phải mạnh mẽ lên.”

“Cùng lúc Thái Thảo gọi, rủ Thái Hiền hát một show để tưởng nhớ đến bố. Vậy là Thái Hiền đồng ý ngay. Nếu không là Thái Thảo mà là một người khác thì có thể Thái Hiền chưa chắc đã nhận lời. Có lẽ đây là một cái duyên để mình trở lại sân khấu chăng?” chị nói thêm.

Thái Hiền trở lại, cùng với các anh em mình, để hát những bài ca của bố Phạm Duy, “để cảm thấy rằng mình gần với gia đình hơn,” như chị nói.

Từ trái, ca sĩ Tuấn Ngọc, Thiên Phượng, Thái Thảo và Thái Hiền trong đêm nhạc “Cho Tôi Lại Ngày Nào.” (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Như đã nói, tôi nhìn Thái Hiền ra sân khấu hoàn toàn không như những ca sĩ tôi từng thấy, hơn nữa lại là một ca sĩ đã thành danh. Nhẹ nhàng. Chừng mực. Đơn giản. Và chỉ hát. Hát bù cho những năm không hát, trong say sưa.

Nghe Thái Hiền hát “Nghìn Trùng Xa Cách” mà xốn xang lạ. Không mang hơi hướng của sự nức nở, bi ai. Vẫn trong trẻo. Vẫn nhẹ tưng. Mà bồi hồi. Thấm đẫm.

“Sau thời gian dài không hát, Thái Hiền rất run khi trở lại sân khấu. Nhưng nhờ Thái Thảo, anh Tuấn Ngọc, và Thiên Phượng ủng hộ tinh thần nên cảm thấy yên tâm hơn,” chị nói, như một lời ghi nhận chân thành những gì mà người thân đã dành cho chị, vực chị đứng lên sau những mất mát.

Thái Hiền cho biết chị chưa có dự định nào cho việc trở lại với sân khấu thường xuyên hơn, nhưng “hy vọng trong tương lai sẽ có buổi diễn nữa nếu khán giả chưa chán nghe.”

Hy vọng của chị có lẽ cũng là hy vọng của nhiều người muốn lại được nghe tiếng hát trong trẻo quên thời gian. (Ngọc Lan)